Chào mừng quý vị đến với Website của Nguyễn Xuân Khoa.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Từ Chi_Anh tôi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: internet
Người gửi: Nguyễn Xuân Khoa (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:25' 03-04-2009
Dung lượng: 116.5 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn: internet
Người gửi: Nguyễn Xuân Khoa (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:25' 03-04-2009
Dung lượng: 116.5 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Huệ Chi
Từ Chi – Anh tôi
(Những câu chuyện bên lề của một học giả)
Nhà dân tộc học Từ Chi (1925-1995)
Theo ý kiến của giới nghiên cứu dân tộc học trong nước và nhiều nhà dân tộc học nước ngoài, Nguyễn Từ Chi là một trong số rất ít tên tuổi được xếp ở hàng đầu của ngành dân tộc học Việt Nam mà công trình để lại, tuy không nhiều và không có gì đồ sộ, nhưng còn có sức khơi mở lâu dài, về thực tiễn và lý thuyết cũng như về phương pháp luận. Tích cực kế thừa nhà Mường học nổi tiếng Jeanne Cusinier, nhưng không lặp lại mọi thao tác trên con đường của người đi trước, ông đã vươn tới những đóng góp bổ sung mới mẻ so với Cusinier. Vũ trụ luận người Mường của ông, được viết bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp, vốn nâng cấp từ một tiểu luận in trên báo, chung quy chỉ chưa đầy 100 trang, vậy mà đến nay vẫn khiến nhiều bạn đọc say mê thích thú, bởi không ít phát hiện bất ngờ mà nó chứa đựng. Công trình bất hủ ấy không chỉ dẫn dắt ta đi qua 12 đêm lễ tang cổ truyền của người Mường tuần tự, tỷ mỉ, dựa trên các bản tang ca được làm sống lại chủ yếu bằng phương pháp vấn thoại hồi cố; nó còn giúp ta hình dung một cách thật sinh động con đường dằng dặc, vòng vèo, đưa tiễn các tinh linh người chết, qua đó hiện dần lên quan niệm vũ trụ ba tầng, bốn thế giới nhìn theo trục dọc, với rất nhiều khuếch đại thu nhỏ hoặc đảo ngược kỳ lạ trong cấu trúc giữa các “cõi sống và cõi chết” ấy, và mối liên kết giữa hai xã hội mường ma và mường người nhìn theo trục ngang - mà ma là xạ ảnh “âm tính” của cá nhân con người, của một tộc người cùng cội nguồn với người Việt, mà về cảm quan hữu thức còn bóc tách ra được những nét tinh ròng, chưa bị pha tạp hoặc ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc. Cạp váy Mường cũng chỉ 100 trang, nhưng nhìn trong tư duy liên kết với các loại môtip hình học và môtip động vật của hoa văn Thái, Tày, hoa văn Bhanar, Djarai và xa hơn đến cả hoa văn Trống Đồng Đông Sơn, lại là một bức tranh tổng thể về ký ức văn hóa mang nét đặc trưng của cả một vùng rộng lớn trên lãnh thổ Việt Nam, khai triển từ thoáng đến rậm, từ dải đến ô vuông xếp chéo cho đến ngôi sao tám cánh, và di chuyển ngược chiều kim đồng hồ, được in dấu, bảo lưu và khúc xạ qua nhiều thời đại, nó tạo nên hồi âm của một bản sắc đã khá ổn định, đi suốt chiều sâu lịch sử hàng mấy nghìn năm. Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ cũng viết bằng song ngữ Việt Pháp và cũng chẳng dày hơn hai cuốn trên, là một khung quy chiếu mẫu mực về mọi mối quan hệ xã hội phức tạp chằng chéo của nền kinh tế tiểu nông dân tộc Kinh, xoay quanh một chuỗi vận hành quanh co, không ngừng tái sinh, lộn kiếp đầu thai như trong truyện cổ, của quá trình tư hữu hóa ruộng đất dưới các hình thức khác nhau, được định vị từ nhiều bình diện, trên nhiều môi trường địa lý, và bằng nhiều lát cắt lịch sử từ quá khứ cho đến hiện tại, nhờ đấy người khác có thể dựa vào để mở rộng, soi chiếu cho vô số mô hình cụ thể riêng rẽ ở các cơ tầng, vùng miền khu biệt của xã thôn Việt Nam. V.v... Có thể nói Nguyễn Từ Chi đã vận dụng được một kiến thức uyên bác trong một bút pháp thuần khiết, biểu cảm, rất giàu so sánh và liên tưởng, nhằm trình bày những hiện tượng dân tộc-nhân loại học bác tạp nhất dưới một hình thức thật giản dị, khiến cho những điều ông gợi lên hàm chứa nhiều lời giải sâu sắc mà không hề đóng cứng, cũng không rơi vào sáo ngữ từ chương. Văn ông có cái ma lực của những chân lý luôn luôn dưới hình thức ẩn tàng, như những giả thuyết làm việc, làm người ta ngạc nhiên, và bị cuốn hút. Gần đây, trong dịp sang dự một hội nghị quốc tế ở Hà Nội, ghé thăm Bảo tàng Dân tộc học, Tổng thống Pháp J. Chirac đã đánh giá Nguyễn Từ Chi cùng Nguyễn Văn Huyên là hai nhà dân tộc học được học giả Pháp kính nể. Với tư cách một người em con chú con bác, từng nhiều năm có chung một không gian tâm tưởng là ngôi nhà Chi gia trang và Mộng Thương thư trai, tôi muốn nói nhiều về quãng đời trai trẻ của ông, khi ông là một chàng vệ quốc đoàn dạn dày sương gió trở về, nằm trong phòng sách gia đình thoáng đãng, mát dịu bóng cây nhãn cổ thụ và mùi ổi rụng đưa vào ngọt nẫu, tập cho chúng tôi những ca
Từ Chi – Anh tôi
(Những câu chuyện bên lề của một học giả)
Nhà dân tộc học Từ Chi (1925-1995)
Theo ý kiến của giới nghiên cứu dân tộc học trong nước và nhiều nhà dân tộc học nước ngoài, Nguyễn Từ Chi là một trong số rất ít tên tuổi được xếp ở hàng đầu của ngành dân tộc học Việt Nam mà công trình để lại, tuy không nhiều và không có gì đồ sộ, nhưng còn có sức khơi mở lâu dài, về thực tiễn và lý thuyết cũng như về phương pháp luận. Tích cực kế thừa nhà Mường học nổi tiếng Jeanne Cusinier, nhưng không lặp lại mọi thao tác trên con đường của người đi trước, ông đã vươn tới những đóng góp bổ sung mới mẻ so với Cusinier. Vũ trụ luận người Mường của ông, được viết bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp, vốn nâng cấp từ một tiểu luận in trên báo, chung quy chỉ chưa đầy 100 trang, vậy mà đến nay vẫn khiến nhiều bạn đọc say mê thích thú, bởi không ít phát hiện bất ngờ mà nó chứa đựng. Công trình bất hủ ấy không chỉ dẫn dắt ta đi qua 12 đêm lễ tang cổ truyền của người Mường tuần tự, tỷ mỉ, dựa trên các bản tang ca được làm sống lại chủ yếu bằng phương pháp vấn thoại hồi cố; nó còn giúp ta hình dung một cách thật sinh động con đường dằng dặc, vòng vèo, đưa tiễn các tinh linh người chết, qua đó hiện dần lên quan niệm vũ trụ ba tầng, bốn thế giới nhìn theo trục dọc, với rất nhiều khuếch đại thu nhỏ hoặc đảo ngược kỳ lạ trong cấu trúc giữa các “cõi sống và cõi chết” ấy, và mối liên kết giữa hai xã hội mường ma và mường người nhìn theo trục ngang - mà ma là xạ ảnh “âm tính” của cá nhân con người, của một tộc người cùng cội nguồn với người Việt, mà về cảm quan hữu thức còn bóc tách ra được những nét tinh ròng, chưa bị pha tạp hoặc ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc. Cạp váy Mường cũng chỉ 100 trang, nhưng nhìn trong tư duy liên kết với các loại môtip hình học và môtip động vật của hoa văn Thái, Tày, hoa văn Bhanar, Djarai và xa hơn đến cả hoa văn Trống Đồng Đông Sơn, lại là một bức tranh tổng thể về ký ức văn hóa mang nét đặc trưng của cả một vùng rộng lớn trên lãnh thổ Việt Nam, khai triển từ thoáng đến rậm, từ dải đến ô vuông xếp chéo cho đến ngôi sao tám cánh, và di chuyển ngược chiều kim đồng hồ, được in dấu, bảo lưu và khúc xạ qua nhiều thời đại, nó tạo nên hồi âm của một bản sắc đã khá ổn định, đi suốt chiều sâu lịch sử hàng mấy nghìn năm. Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ cũng viết bằng song ngữ Việt Pháp và cũng chẳng dày hơn hai cuốn trên, là một khung quy chiếu mẫu mực về mọi mối quan hệ xã hội phức tạp chằng chéo của nền kinh tế tiểu nông dân tộc Kinh, xoay quanh một chuỗi vận hành quanh co, không ngừng tái sinh, lộn kiếp đầu thai như trong truyện cổ, của quá trình tư hữu hóa ruộng đất dưới các hình thức khác nhau, được định vị từ nhiều bình diện, trên nhiều môi trường địa lý, và bằng nhiều lát cắt lịch sử từ quá khứ cho đến hiện tại, nhờ đấy người khác có thể dựa vào để mở rộng, soi chiếu cho vô số mô hình cụ thể riêng rẽ ở các cơ tầng, vùng miền khu biệt của xã thôn Việt Nam. V.v... Có thể nói Nguyễn Từ Chi đã vận dụng được một kiến thức uyên bác trong một bút pháp thuần khiết, biểu cảm, rất giàu so sánh và liên tưởng, nhằm trình bày những hiện tượng dân tộc-nhân loại học bác tạp nhất dưới một hình thức thật giản dị, khiến cho những điều ông gợi lên hàm chứa nhiều lời giải sâu sắc mà không hề đóng cứng, cũng không rơi vào sáo ngữ từ chương. Văn ông có cái ma lực của những chân lý luôn luôn dưới hình thức ẩn tàng, như những giả thuyết làm việc, làm người ta ngạc nhiên, và bị cuốn hút. Gần đây, trong dịp sang dự một hội nghị quốc tế ở Hà Nội, ghé thăm Bảo tàng Dân tộc học, Tổng thống Pháp J. Chirac đã đánh giá Nguyễn Từ Chi cùng Nguyễn Văn Huyên là hai nhà dân tộc học được học giả Pháp kính nể. Với tư cách một người em con chú con bác, từng nhiều năm có chung một không gian tâm tưởng là ngôi nhà Chi gia trang và Mộng Thương thư trai, tôi muốn nói nhiều về quãng đời trai trẻ của ông, khi ông là một chàng vệ quốc đoàn dạn dày sương gió trở về, nằm trong phòng sách gia đình thoáng đãng, mát dịu bóng cây nhãn cổ thụ và mùi ổi rụng đưa vào ngọt nẫu, tập cho chúng tôi những ca
 






Các ý kiến mới nhất